Hoài tưởng 懷想 • Nhớ mong - (Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)

Hoài tưởng 懷想 • Nhớ mong

(Trích: Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲)

Tác giả: Đặng Trần Côn
Dịch thơ: Đoàn Thị Điểm

Nguyên văn chữ Hán:

懷想
勞與閒誰與言
君在天涯妾倚門
倚門固妾今生分
天涯豈君平生魂
自信相隨魚水伴
那堪相隔水雲村
妾身不想為征婦
君身豈學為王孫
何事江南與江北
令人愁曉更愁昏
一個是風流少年客
一個是深閨少年婚
可堪兩年少
千里各寒暄
憶昔與君相別時
柳條猶未囀黃鸝
問君何日歸
君約杜鵑啼
杜鵑已逐黃鸝老
青柳樓前語鷾鴯
憶昔與君相別中
雪梅猶未識東風
問君何日歸
君指桃花紅
桃花已伴東風去
老梅江上又芙蓉
與我約何所
乃約隴西岑
日中兮不來
墜葉兜我簪
竚立空涕泣
荒邨喧午禽
與我約何所
乃約漢陽橋
日晚兮不來
谷風吹我袍
竚立空涕泣
寒江起暮潮
昔年寄信勸君回
今年寄信勸君來
信來人未來
楊花零落委蒼苔
蒼苔蒼苔又蒼苔
一步閒庭百感催
昔年回書訂妾期
今年回書訂妾歸
書歸人未歸
紗窗寂寞轉斜暉
斜暉斜暉又斜暉
十約佳期九度違

Hoài tưởng

Lao dữ nhàn thùy dữ ngôn

Quân tại thiên nhai, thiếp ỷ môn

Ỷ môn cố thiếp kim sinh phận

125. Thiên nhai khởi quân bình sinh hồn

Tự tín tương tùy ngư thủy bạn

Na kham tương cách thủy vân thôn

Thiếp thân bất tưởng vi chinh phụ

Quân thân khởi học vi vương tôn

130. Hà sự giang Nam dữ giang Bắc

Linh nhân sầu hiểu cánh sầu hôn

Nhất cá thị phong lưu thiếu niên khách

Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn

Khả kham lưỡng niên thiếu

135. Thiên lý các hàn huyên

Ức tích dữ quân tương biệt thời

Liễu điều do vị chuyển hoàng ly

Vấn quân hà nhật quy

Quân ước đỗ quyên đề

140. Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão

Thanh Liễu lâu tiền ngữ ý nhi

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức Đông phong

Vấn quân hà nhật quy

145. Quân chỉ đào hoa hồng

Đào hoa dĩ bạn Đông phong khứ

Lão mai giang thượng hựu phù dung

Dữ ngã ước hà sở

Nãi ước Lũng Tây sầm

150. Nhật trung hề bất lai

Trụy diệp đâu ngã trâm

Trữ lập không thế khấp

Hoang thôn huyên ngọ cầm

Dữ ngã ước hà sở

155. Nãi ước Hán Dương kiều

Nhật vãn hề bất lai

Cốc phong xuy ngã bào

Trữ lập không thế khấp

Hàn giang khởi mộ trào

160. Tích niên ký tín khuyến quân hồi

Kim niên ký tín khuyến quân lai

Tín lai nhân vị lai

Dương hoa linh lạc ủy thương đài

Thương đài thương đài hựu thương đài

165. Nhất bộ nhàn đình bách cảm thôi

Tích niên hồi thư đính thiếp kỳ

Kim niên hồi thư đính thiếp quy

Thư quy nhân vị quy

Sa song tịch mịch chuyển tà huy

170. Tà huy tà huy hựu tà huy

Thập ước giai kỳ cửu độ vi


Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn

Đặng Trần Côn là một danh sĩ sống vào khoảng thế kỉ XVIII, trong thời kì xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều biến động và chiến tranh liên miên. Quê quán của ông được cho là ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc khu vực Hà Nội.

Đặng Trần Côn nổi tiếng với tác phẩm Chinh phụ ngâm, một kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm được sáng tác bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú, thể hiện tiếng lòng của người vợ có chồng ra trận, qua đó bộc lộ nỗi cô đơn, nhớ thương, khát vọng đoàn tụ và niềm khao khát cuộc sống hạnh phúc của con người trong thời chiến.

Giới thiệu tác phẩm Chinh phụ ngâm

Chinh phụ ngâm có tên đầy đủ là Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲), do Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán. Tác phẩm sau đó được dịch sang chữ Nôm, trong đó bản dịch thường được biết đến rộng rãi gắn với tên tuổi Đoàn Thị Điểm.

Tác phẩm gồm những lời than của người chinh phụ khi người chồng phải lên đường chinh chiến. Từ lúc tiễn chồng ra đi cho đến những tháng ngày dài đằng đẵng chờ đợi, người phụ nữ luôn sống trong nỗi nhớ thương, cô đơn và lo lắng. Không gian gia đình vốn ấm áp trở nên vắng lặng, thời gian chờ đợi dường như kéo dài vô tận.

Chinh phụ ngâm không chỉ thể hiện nỗi lòng của một người phụ nữ có chồng đi chinh chiến mà còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm cất lên tiếng nói cảm thương đối với số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời thể hiện khát vọng về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi và một cuộc sống bình yên.

Về nghệ thuật, tác phẩm nổi bật ở khả năng miêu tả tâm trạng tinh tế, sử dụng hình ảnh thiên nhiên để diễn tả cảm xúc con người, kết hợp giữa cảnh vật và nội tâm. Những hình ảnh như cành liễu, hoa đào, chim đỗ quyên, ánh tà huy, rêu xanh... đều góp phần làm nổi bật nỗi nhớ và sự chờ đợi của người chinh phụ.

Đoạn trích “Hoài tưởng”

“Hoài tưởng” là đoạn thơ tập trung thể hiện nỗi nhớ thương và mong ngóng của người chinh phụ đối với người chồng đang ở nơi xa. Nhan đề “Hoài tưởng” có nghĩa là nhớ lại, hồi tưởng, qua đó gợi mở dòng hồi ức của người vợ về những kỉ niệm và lời hẹn ước với chồng.

Trong đoạn trích, người chinh phụ nhớ lại những ngày tháng còn được ở bên người chồng, nhớ những lời hẹn ước trước lúc chia xa. Những lời hẹn gặp lần lượt trở thành những lần chờ đợi vô vọng: mùa hoa này qua đi, mùa hoa khác lại đến nhưng người đi vẫn chưa trở về. Thiên nhiên thay đổi theo thời gian càng làm nổi bật sự dài dằng dặc của nỗi chờ mong.

Đặc biệt, các hình ảnh “Dương hoa”, “thương đài”, “tà huy” cùng những câu thơ lặp lại tạo nên âm hưởng buồn thương, day dứt. Câu thơ cuối “Thập ước giai kỳ cửu độ vi” thể hiện rõ tâm trạng đau đớn của người chinh phụ: mười lần hẹn ngày đoàn tụ thì có đến chín lần lỡ hẹn.

Qua đoạn trích, Đặng Trần Côn đã khắc họa sâu sắc tâm trạng nhớ thương, cô đơn, mong ngóng và thất vọng của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đằng sau nỗi nhớ ấy là khát vọng rất đời thường và chính đáng về một mái ấm gia đình, về ngày vợ chồng được đoàn tụ.

Đoạn thơ đồng thời cho thấy vẻ đẹp của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, sử dụng hình ảnh thiên nhiên, thời gian, không gian và những điệp từ, điệp cấu trúc để diễn tả những cung bậc tinh tế của tâm trạng. Đây cũng là một trong những giá trị nổi bật làm nên sức sống lâu bền của Chinh phụ ngâm trong văn học Việt Nam.

Soạn bài: Mẫu Đơn. 

Nhận xét

Tìm Danh Mục Liên Quan

Hiện thêm