Đọc văn bản: Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích Cung oán ngâm khúc) - Nguyễn Gia Thiều

Đọc văn bản: Nỗi sầu oán của người cung nữ

(Trích Cung oán ngâm khúc)

Nguyễn Gia Thiều

Trang 61, 62, 63 Ngữ văn lớp 9, tập 1 - Bộ kết nối tri thức với cuộc sống. 

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng,

Đêm năm canh trông ngóng lần lần.

Khoảnh làm chi bấy chúa xuân!

Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi.

Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ,

Gác thừa lương thức ngủ thu phong.

Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,

Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi.

Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm,

Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.

Thâm khuê vắng ngắt như tờ,

Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương reo.

Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ,

Dấu phương xa đám cỏ quanh co.

Lầu Tần, chiều nhạt vẻ thu,

Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.

Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng,

Đêm năm canh, tiếng lắng chuông rền.

Lạnh lùng thay giấc cô miên!

Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.

Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ,

Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu.

Một mình đứng tủi ngồi sầu,

Đã than với nguyệt lại rầu với hoa!

Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,

Ngán trăm chiều, bước lại ngẩn ngơ.

Hoa này bướm nỡ thờ ơ,

Để gầy bông thắm, để xơ nhụy vàng!

Đêm năm canh lần nương vách quế.

Cái buồn này ai nỡ giết nhau.

Giết nhau chẳng cái lưu cầu,

Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!

Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ!

Xe thế này có dở dang không?

Đang tay muốn dứt tơ hồng,

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!

Những khúc ngâm chọn lọc, tập 1, Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc giới thiệu (biên khảo và chú giải, Sđd, tr. 153 - 156)


Giới thiệu tác giả – tác phẩm

1. Tác giả Nguyễn Gia Thiều

Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), hiệu Ôn Như, là một danh sĩ, nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII. Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, có truyền thống khoa bảng và từng làm quan dưới thời Lê – Trịnh. Nguyễn Gia Thiều là người có học vấn uyên bác, am hiểu văn chương, nghệ thuật và có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học dân tộc.

Sáng tác của Nguyễn Gia Thiều thể hiện một tâm hồn nhạy cảm trước những nghịch cảnh của con người, đặc biệt là số phận đau khổ, cô đơn và những khát vọng chính đáng nhưng không được thỏa mãn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Thơ văn của ông thường mang giọng điệu buồn thương, day dứt, giàu tính suy tưởng và có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Gia Thiều là Cung oán ngâm khúc, một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam.

2. Tác phẩm Cung oán ngâm khúc

Cung oán ngâm khúc còn có tên là Cung oán thi, là tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát, gồm khoảng 356 câu thơ. Tác phẩm kể và bộc lộ tâm trạng của một người cung nữ từng được sủng ái nhưng sau đó bị nhà vua lạnh nhạt, phải sống trong cảnh cô đơn, buồn tủi nơi cung cấm.

Thông qua lời than oán của người cung nữ, Nguyễn Gia Thiều không chỉ khắc họa sâu sắc nỗi cô đơn, đau khổ và bi kịch của người phụ nữ mà còn thể hiện sự trân trọng đối với những khát vọng về tình yêu, hạnh phúc và giá trị của tuổi trẻ. Tác phẩm đồng thời cho thấy sự bất công của xã hội phong kiến khi con người, đặc biệt là người phụ nữ, không được tự quyết định số phận và hạnh phúc của mình.

Về nghệ thuật, Cung oán ngâm khúc nổi bật ở thể thơ song thất lục bát, ngôn ngữ giàu tính tạo hình và biểu cảm, nhiều hình ảnh ước lệ, điển cố, cùng nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế. Những câu thơ có nhịp điệu lúc dồn dập, lúc kéo dài, phù hợp với những cung bậc cảm xúc buồn thương, oán hờn và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình.

3. Đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ

Đoạn trích “Nỗi sầu oán của người cung nữ” trong Cung oán ngâm khúc tập trung thể hiện cuộc sống cô độc và tâm trạng đau khổ, u uất của người cung nữ trong chốn cung đình.

Ngay từ những câu thơ đầu, nhân vật trữ tình đã xuất hiện trong cảnh “âm thầm chiếc bóng”, ngày đêm sống trong chờ đợi và cô đơn. Không gian cung cấm rộng lớn nhưng lại trở thành nơi giam hãm tuổi trẻ và hạnh phúc của con người. Những hình ảnh như “phòng tiêu lạnh ngắt”, “thâm khuê vắng ngắt”, “gối loan tuyết đóng”, “chăn cù giá đông”, “mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u” liên tiếp gợi ra một thế giới lạnh lẽo, vắng vẻ và đầy buồn thương.

Nỗi cô đơn càng trở nên sâu sắc khi người cung nữ không nhận được tin tức, không có người sẻ chia. Nàng “một mình đứng tủi ngồi sầu”, chỉ biết tìm đến trăng và hoa để giãi bày tâm sự. Tuổi trẻ, nhan sắc và tình yêu của nàng dần bị lãng quên. Hình ảnh “hoa” và “bướm” được sử dụng như những biểu tượng cho tình yêu và tuổi xuân, qua đó làm nổi bật bi kịch của một con người có khát vọng hạnh phúc nhưng không thể tự quyết định cuộc đời mình.

Đặc biệt, ở cuối đoạn trích, nỗi buồn đã chuyển thành sự oán hờn và phản kháng. Những câu hỏi, lời cảm thán và cách nói mạnh mẽ như “Đang tay muốn dứt tơ hồng / Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!” cho thấy nhân vật không còn cam chịu hoàn toàn. Đằng sau tiếng than của người cung nữ là khát vọng được sống, được yêu và được làm chủ số phận.

Qua đoạn trích, Nguyễn Gia Thiều thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với người phụ nữ bị vùi dập trong xã hội phong kiến, đồng thời trân trọng những khát vọng chính đáng của con người về tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc. Đây cũng là một biểu hiện tiêu biểu của giá trị nhân đạo trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII.

Thiên Di. 

Nhận xét

Tìm Danh Mục Liên Quan

Hiện thêm