CHUYỆN CÂY GẠO
Trình Trung Ngộ là một chàng đẹp trai đất Bắc Hà. Nhà rất giàu, thuê thuyền xuống vùng Nam buôn bán. Chàng thường đỗ thuyền ở dưới cầu Liễu Khê[1] rồi đi lại vào chợ Nam Xang. Dọc đường, hay gặp một người con gái xinh đẹp, từ Đông Thôn đi ra, đằng sau có một ả thị nữ theo hầu. Chàng liếc mắt trông, thấy là một giai nhân tuyệt sắc. Song đất lạ quê người, biết đâu dò hỏi, chỉ mang một mối tình u uất trong lòng. Một hôm khác, chàng cũng lại gặp, muốn kiếm một lời nói kín đáo để thử khêu gợi, nhưng người con gái đã xốc xiêm rảo bước, và bảo với con hầu gái rằng:
— Ta lâu nay rượu xuân quá chén, mê mệt nằm dài, hầu nửa năm trời, không lên chơi cầu Liễu Khê lần nào cả, chẳng biết giờ phong cảnh ra sao. Đêm nay nên qua thăm cảnh cũ, để được khuây giải chút tình u uất ở trong lòng, vậy em có đi theo ta không?
Con hầu vâng lời.
Trung Ngộ nghe lõm được lấy làm mừng lắm. Tối hôm ấy, chàng đến bên cầu chờ sẵn. Đêm khuya người vắng, quả thấy người con gái cùng ả thị nữ mang theo đến một cây hồ cầm, đi tới đầu cầu, thở dài mà nói rằng:
— Nước non vẫn nước non nhà, cảnh còn như cũ người đà khác xưa, làm sao khỏi cảm động bùi ngùi cho được!
Bèn ngồi tựa vào bức lan can trên cầu, ôm đàn gảy mấy bài Nam Cung, mấy điệu Thu Tứ. Một lúc nàng bỏ đàn đứng dậy nói rằng:
— Giải niềm u uất, muốn mượn tiếng đàn; song điệu cao ý xa, đời làm gì có kẻ tri âm hiểu cho mình được, chẳng bằng về cho sớm là hơn.
Trung Ngộ liền bước rảo đến trước mặt nàng, vái chào mà rằng:
— Chính tôi là người tri âm mà nương tử đã không biết đấy.
Người con gái giật mình nói:
— Vậy ra chàng cũng ở đây ư? Thiếp đã từng nhiều lần được chàng đoái tới, ơn ấy thật vẫn ghi lòng. Chỉ vì ở đường sá vội vàng, không tiện tỏ bày chung khúc. Giờ nhân đêm vắng, dạo bước nhàn du, không ngờ chàng lại đã đến trước ở đây. Nếu không phải duyên trời, sao lại có sự gặp gỡ may mắn như vậy. Song hạt châu hạt ngọc ở bên, thiếp chẳng khỏi tự xét thấy mình nhơ bẩn, thực lấy làm e thẹn vô cùng.
Chàng hỏi họ tên và nhà cửa. Nàng chau mày nói:
— Thiếp họ Nhị tên Khanh, là cháu gái của ông cụ Hối, một nhà danh giá trong làng. Hai thân mất sớm, cảnh nhà đơn hàn. Mới đây bị người chồng ruồng bỏ, thiếp phải dời ra ở bên ngoài lũy làng. Nghĩ đời người ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm lấy những thú vui. Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể được nữa.
Hai người bèn đưa nhau xuống thuyền. Người con gái sẽ bảo chàng rằng:
— Thân tàn một mảnh, cách với chết cũng chẳng bao xa. Ngày tháng quạnh hiu, không người săn sóc. Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới mầm khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa.
Bèn cùng nhau ân ái hết sức thỏa mãn. Nàng có làm hai bài thơ để ghi cuộc hoan lạc như sau:
I
Dịch:
II
Dịch:
Trình Trung Ngộ vốn là lái buôn, biết ít chữ nghĩa, nàng giải nghĩa rõ ràng cho hiểu; chàng rất khen ngợi mà rằng:
— Văn tài của nàng, không kém gì Dị An[6] ngày xưa.
Nàng cười mà rằng:
— Người ta sinh ở đời, cốt được thỏa chí, chứ văn chương thời có làm gì, chẳng qua rồi cũng nấm đất vàng là hết chuyện. Đời trước những người hay chữ như Ban Cơ, Sái nữ[7], nay còn gì nữa đâu. Sao bằng ngay trước mắt, tìm thú vui say, để khỏi phụ mất một thời xuân tươi tốt.
Trời gần sáng, nàng từ biệt ra về, từ đấy đêm nào cũng lại.
Trải hơn một tháng, bọn bạn buôn có người biết chuyện, bảo với Trung Ngộ rằng:
— Bác ở chỗ quê người đất khách, nên biết giữ mình thận trọng, xa lánh những sự hiềm nghi. Chớ sao nên giở nết gió trăng, quyến phường hoa liễu. Như người con gái ấy, chẳng tường duyên do gốc tích, nếu không là cô ả nũng nịu ở chốn buồng thêu, thì tất cũng dì bé yêu chiều ở nơi gác gấm. Nay bác cứ như vậy, lỡ một sớm sự cơ khó giấu, thanh tích lộ ra, trên thì bị hình pháp lôi thôi, dưới không có họ hàng cứu giúp, bấy giờ thì bác tính thế nào? Chi bằng đã trót dan díu thì nên tìm đến gốc tích cửa nhà, rồi hoặc ruồng bỏ, như Xương Lê với nàng Liễu Chi[8], hoặc đèo bòng, như Lý Tĩnh với nàng Hồng Phất[9], thế mới là kế vạn toàn được.
Trung Ngộ khen phải, rồi một hôm chàng bảo với nàng:
— Tôi vốn là một người viễn khách, tình cờ kết mối lương duyên; nhưng đối với giai nhân, cửa nhà chưa rõ, tung tích không tường, trong bụng rất lấy làm áy náy.
Nàng nói:
— Nhà thiếp vốn không phải xa xôi là mấy. Nhưng nghĩ chúng mình gặp gỡ, chẳng qua là một cuộc riêng tây. Chỉn e thuyền quyên ghen ghét, tai mắt nghi ngờ, đánh vịt mà kinh uyên, đốt lan mà héo huệ. Cho nên thà mang sao mà đến, đội nguyệt mà về, khỏi để mối lo cho lang quân đó thôi.
Song Trung Ngộ cố nài; nàng cười mà rằng:
— Chỉ vì nhà thiếp xấu xa, nên hổ thẹn mà muốn giấu giếm. Nhưng nay chàng đã cố muốn biết, vâng thì thiếp xin đưa về.
Rồi đó canh ba đêm hôm ấy, nhân lúc đêm đen trời tối, hai người cùng đi đến Đông Thôn. Khi đến một chỗ, chung quanh có bức hàng rào bằng giong tre, thỉnh thoảng chen lẫn vào vài khóm lau khô, trong có túp nhà gianh thấp nhỏ lụp xụp, dây vôi dây bìm leo đầy lên vách và lên mái, nàng trỏ bảo chàng rằng:
— Đây, nhà của thiếp đây, xin cứ đẩy cửa vào ngồi chơi, để thiếp đi kiếm cái lửa.
Trình cúi đầu qua dưới mái tranh, vào tạm ngồi ở chỗ bờ cửa. Thỉnh thoảng có cơn gió thổi, chàng thoáng thấy một mùi tanh thối khó chịu. Đương kinh ngạc không biết mùi gì, bỗng trong nhà đã có bóng đèn sáng. Chàng trông vào, thấy ở gian bên phía tả kê một chiếc giường mây nhỏ, trên giường để một cỗ áo quan sơn son, trên quan phủ một tấm the hồng, dùng ngân sa đề vào mấy chữ: « Linh cữu của Nhị Khanh ». Cạnh cữu có người con gái nặn bằng đất, tay ôm cây hồ cầm đứng hầu.
Trung Ngộ thấy vậy, sởn gai dựng tóc, tất tả nhảy choàng ra khỏi cái nhà ấy. Song chàng vừa chạy thì người con gái đã cản đường mà bảo:
— Chàng đã từ xa lại đây, quyết không có lý nào còn trở về nữa. Phương chi trong bài thơ bữa nọ, thiếp chả đã từng lấy cái chết mà hẹn hò nhau! Xin sớm theo nhau đi, cho được thỏa nguyền đồng huyệt. Nằm vò võ một mình như vậy, lẽ đâu nay thiếp lại để cho chàng về.
Nói rồi nàng sấn lại nắm vạt áo chàng. Nhưng may vạt áo cũ bở, chàng giật rách mà chạy được thoát; về đến cầu Liễu Khê, hầu như kẻ mất hồn không nói được nữa.
Sáng hôm sau, nhân đến Đông Thôn hỏi thăm, quả có người cháu gái của ông cụ Hối, lên 20 tuổi, chết đã nửa năm, hiện quàn ở ngoài đồng ngay bên cạnh làng. Từ đấy Trung Ngộ sinh ra ốm nặng. Mà Nhị Khanh cũng thường qua lại, có lúc đứng bên cửa sổ nói thì thào. Trung Ngộ cũng vẫn thường ứng đáp với nàng và muốn vùng dậy để đi theo. Người trong thuyền phải lấy dây thừng trói lại thì chàng mắng:
— Chỗ vợ ta ở, có lâu đài lộng lẫy, có hương hoa ngạt ngào, ta phải đi theo chứ không thể lẩn quẩn trong chốn bụi hồng này được; dự gì đến các ngươi mà dám đem dây trói buộc ta thế này?
Một đêm, người trong thuyền ngủ say, đến sáng thức dậy thì thấy mất Trung Ngộ. Họ vội đến Đông Thôn tìm thấy chàng đã nằm ôm quan tài mà chết, bèn phải thu liệm chôn ngay ở đấy. Từ đó về sau, phàm những đêm tối trời, người ta thường thấy hai người dắt tay nhau đi đôi, khi thì hát, khi thì khóc; thường bắt người ta phải khấn cầu lễ bái, hễ hơi không được như ý thì làm tai làm vạ. Người làng đấy không thể chịu được mọi nỗi khổ hại, họ bèn đào mả phá quan tài chàng, rồi cùng cả hài cốt của nàng, vứt bỏ xuống sông cho trôi theo dòng nước.
Trên bờ sông ấy có một cái chùa, chùa có cây gạo rất cổ, tương truyền là đã sống được hơn trăm năm. Linh hồn của hai người bèn nương tựa vào cây gạo ấy làm yêu làm quái, hễ ai động đến cành lá cây gạo thì dao gãy rìu mẻ, không thể nào đẵn phạt được.
Trong năm Canh Ngọ (1330) niên hiệu Khai Hựu nhà Trần, có vị đạo nhân một đêm vào nằm ngủ trong cái chùa ấy. Giữa lúc sông quạnh trăng mơ, bốn bề im lặng, đạo nhân thấy một đôi trai gái thân thể lõa lồ mà cùng nhau cười đùa nô giỡn, một lát, đến gõ thình thình mà gọi hỏi trong chùa. Đạo nhân cho là đôi trai gái lẳng lơ đêm trăng dắt nhau đi chơi, khinh bỉ cái phẩm cách của họ, nên cứ đóng cửa nằm im, không thèm đánh tiếng. Sáng hôm sau, đạo nhân đem sự trông thấy thuật chuyện với một ông già ở trong thôn và phàn nàn là sao dân phong đồi tệ như vậy. Ông già nói:
— Ngài không biết, đó là giống yêu quỷ, chúng đến ở trên cây gạo đã mấy năm nay; ước sao có thanh kiếm trừ tà, để trừ cho dân chúng tôi đây giống yêu quỷ ấy.
Đạo nhân trầm ngâm một lúc lâu rồi nói:
— Ta vốn lấy việc cứu giúp mọi người làm nhiệm vụ; nay cái việc mắt ta trông thấy, nếu chẳng đem pháp thủ ra thì tức là thấy người chết đuối mà không cứu vớt.
Rồi đạo nhân vời họp người làng, lập một đàn tràng cúng tế, viết ba đạo bùa, một đạo đóng vào cây gạo, một đạo thả chìm xuống sông, còn một đạo đốt ở giữa trời; đoạn quát to lên rằng:
« Những tên dâm quỷ, càn dỡ đã lâu, nhờ các thần linh, trừ loài nhơ bẩn, phép không chậm trễ, hỏa tốc phụng hành. »
Một lúc, mây gió nổi lên đùng đùng, người đứng cách mấy thước không trông thấy nhau, dưới sông thì sóng tung cuồn cuộn, vang trời động đất. Sau một hồi, gió lặng mây quang, thấy cây gạo đã bị nhổ bật, cành cây gãy nát và bị tước như tước đay vậy, kế nghe thấy trong không có tiếng roi vọt và tiếng kêu khóc. Mọi người ngẩng lên trông, có 6, 7 trăm lính đầu trâu, gông trói hai người mà dẫn đi.
Người làng đem rất nhiều tiền của để tạ ơn vị đạo nhân, nhưng đạo nhân phất áo đi vào non sâu, không lấy một tý gì cả.
Lời bình
Than ôi, cái giống ma quỷ, tuy từ xưa không phải cái nạn đáng lo cho người thiên hạ, nhưng kẻ thất phu đa dục thì thường khi mắc phải. Trung Ngộ là một gã lái buôn không có trí thức, không đủ trách vậy. Vị đạo nhân kia vì người trừ hại, công đức lớn lao; nhà bình luận công bằng sau này, phải nên biết đến. Không nên lấy cớ huyễn thuật mà cho là chuyện nhảm, bảo rằng dị đoan mà dìm mất cái hay, ngõ hầu mới hợp cái ý nghĩa người quân tử trung hậu đối với người khác.
Chú thích
Giới thiệu tác giả – tác phẩm “Chuyện cây gạo”
1. Tác giả Nguyễn Dữ
Nguyễn Dữ là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỉ XVI. Ông quê ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng và từng theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nguyễn Dữ sống trong bối cảnh xã hội phong kiến có nhiều biến động, chiến tranh và tranh giành quyền lực diễn ra phức tạp. Sau khi thi đỗ và từng ra làm quan, ông không muốn tiếp tục con đường quan trường nên lui về ở ẩn, dành nhiều thời gian nghiên cứu, sáng tác văn chương.
Sáng tác của Nguyễn Dữ không nhiều nhưng có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Truyền kỳ mạn lục”, một tập truyện truyền kỳ bằng chữ Hán gồm 20 truyện. Qua những câu chuyện có nhiều yếu tố kỳ ảo, Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội đương thời, đồng thời thể hiện sự cảm thông đối với những con người nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ, và bộc lộ thái độ phê phán đối với những thế lực chà đạp lên công lý, đạo đức và hạnh phúc con người.
Nguyễn Dữ được xem là người có đóng góp quan trọng trong việc đưa thể loại truyền kỳ của văn học Việt Nam phát triển đến trình độ nghệ thuật cao.
2. Tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục”
“Truyền kỳ mạn lục” có nghĩa là “Ghi chép tản mạn những chuyện kỳ lạ được lưu truyền”. Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Dữ và cũng là một trong những thành tựu nổi bật của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam.
Tác phẩm gồm 20 truyện, được viết bằng chữ Hán. Các câu chuyện thường kết hợp giữa những sự việc có thật trong đời sống với các yếu tố kỳ ảo như thần linh, ma quỷ, giấc mộng, thế giới âm phủ và những cuộc gặp gỡ giữa người với các nhân vật siêu nhiên.
Đằng sau lớp vỏ kỳ ảo ấy là những vấn đề rất gần gũi với cuộc sống con người. Nguyễn Dữ quan tâm đến tình yêu, hôn nhân, gia đình, số phận người phụ nữ, khát vọng hạnh phúc, công lý và những bất công trong xã hội phong kiến.
Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc. Nhà văn không chỉ phản ánh một xã hội nhiều bất công mà còn thể hiện sự trân trọng đối với những phẩm chất tốt đẹp, những khát vọng chính đáng của con người.
3. “Chuyện cây gạo”
“Chuyện cây gạo” là một truyện trong Truyền kỳ mạn lục. Tác phẩm xây dựng một câu chuyện giàu màu sắc kỳ ảo xoay quanh mối quan hệ giữa con người và thế giới siêu nhiên.
Truyện kể về một chàng trai có cuộc gặp gỡ với một người phụ nữ xinh đẹp. Từ cuộc gặp gỡ ban đầu, câu chuyện phát triển thành một mối duyên tình đầy éo le. Những tình tiết kỳ lạ, sự xuất hiện của thế giới ma quỷ và những biến cố bất thường khiến câu chuyện mang đậm đặc trưng của thể loại truyền kỳ.
Tuy nhiên, yếu tố kỳ ảo trong truyện không chỉ nhằm tạo cảm giác ly kỳ, hấp dẫn. Thông qua câu chuyện về tình yêu, dục vọng, sự ghen tuông, cái chết và thế giới bên kia, Nguyễn Dữ còn đặt ra nhiều vấn đề về đạo đức, nhân tình thế thái và cách con người ứng xử với nhau.
Đặc biệt, tác phẩm cho thấy đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật của Nguyễn Dữ: dùng cái kỳ ảo để nói về cái thực. Thế giới thần tiên, ma quỷ tưởng như xa lạ nhưng thực chất lại là phương tiện để nhà văn phản ánh những vấn đề của xã hội và con người đương thời.
4. Giá trị nội dung của tác phẩm
“Chuyện cây gạo” hấp dẫn trước hết bởi câu chuyện tình đầy biến động và những tình tiết kỳ ảo liên tiếp xuất hiện. Qua đó, tác phẩm gợi lên nhiều suy ngẫm về tình yêu, hạnh phúc, lòng chung thủy, dục vọng và những hậu quả mà con người có thể phải đối mặt khi không làm chủ được bản thân.
Tác phẩm cũng thể hiện cái nhìn nhân văn của Nguyễn Dữ đối với con người. Nhà văn quan tâm đến những khát vọng tình cảm rất đời thường, đồng thời cho thấy những bi kịch mà con người phải chịu đựng trong một xã hội còn nhiều ràng buộc và bất công.
Bên cạnh đó, tác phẩm còn mang ý nghĩa cảnh tỉnh. Những hành động sai trái, những ham muốn không được kiểm soát và sự thiếu tỉnh táo trong các mối quan hệ có thể dẫn đến những hậu quả đau lòng.
5. Đặc sắc nghệ thuật
Một trong những thành công nổi bật của “Chuyện cây gạo” là nghệ thuật kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kỳ ảo.
Nguyễn Dữ xây dựng những nhân vật, hoàn cảnh và mối quan hệ có vẻ gần gũi với đời sống, sau đó đưa vào câu chuyện những chi tiết kỳ lạ như ma quỷ, thế giới âm giới, những cuộc gặp gỡ bất thường. Cách xây dựng này vừa tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện, vừa giúp nhà văn mở rộng khả năng phản ánh hiện thực.
Ngoài ra, tác phẩm còn có nghệ thuật xây dựng tình huống khá đặc sắc. Các biến cố được triển khai theo hướng bất ngờ, tạo sự tò mò cho người đọc. Ngôn ngữ kể chuyện kết hợp với những đoạn đối thoại, thơ ca và lời bình góp phần làm cho tác phẩm mang đậm phong cách văn chương trung đại.
Đặc biệt, lời bình cuối truyện có vai trò quan trọng. Đây không chỉ là phần nhận xét của người kể chuyện mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn quan điểm đạo đức, cách nhìn về con người và xã hội của tác giả.
6. Ý nghĩa của tác phẩm
“Chuyện cây gạo” cho thấy tài năng của Nguyễn Dữ trong việc kể chuyện và xây dựng thế giới nghệ thuật giàu sức tưởng tượng. Tác giả đã sử dụng những câu chuyện kỳ lạ để gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống con người.
Qua tác phẩm, người đọc không chỉ bị cuốn hút bởi những tình tiết kỳ ảo mà còn nhận ra nhiều vấn đề có ý nghĩa lâu dài: con người cần biết trân trọng tình cảm chân thành, sống có trách nhiệm với bản thân và người khác, đồng thời phải biết phân biệt giữa khát vọng chính đáng và những ham muốn có thể dẫn đến bi kịch.
Có thể nói, “Chuyện cây gạo” là một tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật truyền kỳ của Nguyễn Dữ: hấp dẫn ở câu chuyện, độc đáo ở yếu tố kỳ ảo nhưng sâu sắc ở giá trị hiện thực và tư tưởng nhân văn. Tác phẩm góp phần làm nên giá trị bền vững của Truyền kỳ mạn lục trong nền văn học trung đại Việt Nam.
Soạn bài: Mẫu Đơn.

Nhận xét
Đăng nhận xét